Giới thiệu về Nhạc cụ Đàn hồ của Việt Nam

Đàn hồ là nhạc cụ truyền thồng, được coi là nhạc cụ dân tộc Việt, chúng thuộc bộ dây, sử dụng cung mã vĩ kéo cho cọ vào dây để tạo âm. Khi mới xuất hiện, chúng chỉ có một loại, nhưng càng ngày chúng càng được biến thể với nhiều kiểu hơn và mặc dù cùng là một dụng cụ nhưng mỗi dân tộc, vùng miền lại có cách sử dụng khác nhau.

Chúng có 2 dây chính dùng khi chơi nên cấu tạo khá giống đàn nhị, tuy vậy kích thước bầu cộng hưởng lớn hơn, âm thanh trầm hơn đàn nhị. Đàn hồ thường có xuất hiện trong dàn nhạc dân tộc cổ truyền. Người ta dùng nó để đệm cho các giọng nam trung, nam trầm, nữ trung (còn gọi là giọng thổ), diễn tả những âm điệu suy tư, trầm mặc hoặc những giai điệu buồn. Đàn hồ cũng được dùng phổ biến trong nghệ thuật hát xẩm

Giới thiệu về Nhạc cụ Đàn hồ của Việt Nam

Đàn hồ tại Việt Nam hiện nay có xuất xứ từ Ấn Độ và vùng Trung Á, được du nhập vào Việt Nam cùng với Trống cơm từ thế kỷ I đến thế kỷ III sau công nguyên.

Tại Trung Quốc, người Hoa cũng du nhập loại nhạc cụ này từ người Hồ (tên gọi được người Hán dùng để chỉ các dân tộc sinh sống tại vùng giáp giới giữa tây bắc Trung Quốc với các nước Trung Á) trong thời kỳ thịnh đạt của “Con đường tơ lụa”. Vì vậy nên người Trung Quốc gọi nó là Hồ cầm(đàn của người Hồ).

Người Việt Nam gọi theo ngôn ngữ tiếng Việt là đàn hồ. Ban đầu, chúng là nhạc cụ của những người du mục,không quá phổ biến và được dùng chủ yếu trong sinh hoạt văn nghệ dân gian và trong các cuộc tế lễ. Hiện nay, đàn hồ có mặt trong hầu hết các dàn nhạc dân tộc cổ truyền Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc, Đài Loan. Loại đàn này cũng có mặt ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, một số nước khu vực Tây Á và Kavkaz. Mỗi đất nước khi chúng du nhập tới, chúng đều được điều chỉnh khác nhau ở một vài điểm và đến hiện tại, chúng trở thành nhạc cụ phổ biến trong âm nhạc dân tộc, xuất hiện thường xuyên trong những buổi biểu diễn mang đậm tính truyền thồng.

Trong dân gian Việt Nam thời cổ, có một loại đàn giống với đàn này, được gọi là Đàn gáo (có bầu đàn giống cái gáo, mặt đàn bằng gỗ mỏng). Do cấu tạo và tính năng tương tự, nó được coi như một mẫu biến thể của đàn hồ.

Giới thiệu về Nhạc cụ Đàn hồ của Việt Nam

Đàn hồ có cấu tạo khá đơn giản, gồm có:

Hộp cộng hưởng hình trụ tròn, trụ lục giác, trụ bát giác, nửa hình cầu hoặc parabol tròn xoay (tùy theo từng nơi chế tạo). Mặt hôp được làm từ da là chủ yếu, các loại da thú hoặc da trăn được gia công và phơi sấy khô gắn căng, đều lên mép hộp. Với chất liệu da thú, đây là một nhược điểm của đàn vì chúng không chịu được nước, hay ẩm, dễ khiến âm sắc sai lệch hoặc không rõ âm.
Cần đàn hình trụ tròn, làm bằng loại gỗ cứng đã phơi khô, ít biến dạng, được cắm vào hộp cộng hưởng phía gần mặt da. Giúp nhạc công thuận lợi khi chơi, chúng được mài nhắn hoặc phủ một lớp sơn khá đẹp lên trên, phần đầu trên của cần thường được uốn cong nhẹ giúp chúng thanh thoát và tinh tế hơn.
Đàn hồ có hai dây. Dây đàn hồ thời xưa được gia công bằng ruột mèo phơi khô, thái thành sợi mỏng. Tuy nhiên, đến hiện nay, chúng không được làm như vậy nữa mà được tha bằng tơ hoặc nilon. Một đầu được quấn quanh phần cần quay định âm, một đầu quấn tại phía dưới đáy đàn.

Tay quay định âm được làm bằng gỗ cứng, xỏ qua lỗ đục sẵn trên phía đầu cần đàn.

Cung kéo được gia công từ lông đuôi ngựa (mã vĩ), được gắn căng trên một cành trúc (tre) nhỏ tạo thành hình cánh cung. Khác với đàn Violon của phương Tây có mã vĩ rời bên ngoài và trượt trên 4 dây đàn; dây mã vĩ của đàn hồ đi qua khoảng cách giữa hai dây. Lông đuôi ngựa trượt trên dây đàn tạo ra âm thanh. Để tăng độ ma sát khi kéo đàn, người ta thường dùng miếng nhựa thông chà xát vào lông đuôi ngựa. Ngày nay, các nghệ sĩ thường dùng cung vĩ của đàn violon với tính năng tương đương để có thể xếp gọn dọc theo cần đàn khi cất giữ hoặc di chuyển.
Dây níu: Để định âm cho từng âm vực khác nhau theo bản nhạc hoặc phù hợp theo giọng hát khi đệm cho ca sĩ, người ta thường dùng dây níu để rút ngắn hoặc kéo dài khoảng cách phát âm của dây đàn, tạo ra âm vực trầm, bổng khác nhau

Đàn hồ của Việt Nam

Đặc điểm âm thanh của bàn hồ.

Đàn hồ có âm sắc thấp hơn so với đàn nhị từ 3 đến 8 cung bậc. m sắc của chúng mờ đục nhưng đầy đặn, tạo cảm giác trầm mặc, khỏe khoắn,. Trong ca nhạc dân tộc và kịch hát dân tộc (chèo, tuồng, cải lương của Việt Nam, kinh kịch của Trung Quốc); đàn hồ thường được dùng để đệm cho giọng nam trung, nam trầm, nữ trung. Đây cũng là loại đàn đặc trưng của nghệ thuật hát xẩm khi diễn tấu với trống khẩu và các loại phách.

Có thể bạn thích